Chiến tranh biên giới Tây Nam qua góc nhìn của giáo viên Lịch Sử

  • 15/01/2019 15:35

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến tranh biên giới Tây Nam (1979-2019), Thạc sỹ Trần Trung Hiếu, giáo viên Lịch sử tại Nghệ An đã có bài viết thể hiện quan điểm cá nhân đầy tâm huyết dưới góc độ giáo dục. Báo Người Đưa Tin xin gửi tới bạn đọc bài viết .

Đưa vào Chương trình sách giáo khoa mới là hoàn toàn cần thiết

Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới Tây Nam (1975-1979) là một quá trình lịch sử hoàn toàn có thật, có ý nghĩa rất quan trọng. Tuy nhiên, cũng giống như cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới phía Bắc (1978 – 1988), lịch sử các cuộc chiến tranh này, cho tới nay, còn chưa được nghiên cứu và trình bày đầy đủ trên các diễn đàn công khai ở Việt Nam, đặc biệt là trong nội dung giáo dục lịch sử của trường phổ thông các cấp.

Cũng trong bộ SGK hiện hành, lịch sử cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc được đề cập đến với dung lượng 4 câu, 11 dòng.

Có thể thấy, việc trình bày về lịch sử cả hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc như trên là quá sơ lược, không tương xứng với vị trí, tầm vóc và ý nghĩa của hai quá trình lịch sử đó trong lịch sử hiện đại Việt Nam; không đáp ứng được nhu cầu nhận thức và càng không đáp ứng được yêu cầu phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh Việt Nam. Hơn nữa, dù chỉ trong một số đoạn văn ngắn như vậy cũng đã lộ ra một số lỗi, sai sót cả về nội dung lịch sử và hình thức trình bày, diễn đạt.

chien-tranh-bien-gioi-tay-nam-qua-goc-nhin-cua-giao-vien-lich-su

Chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang An Giang xây dựng phòng tuyến đánh trả quân Pôn Pốt, bảo vệ biên giới Tây Nam. Ảnh tư liệu

Điều quan trọng hơn nữa là, toàn bộ những kiến thức về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc trong nhiều năm qua đã được bộ GD&ĐT quyết định là nằm trong “chương trình giảm tải”. Nghĩa là giáo viên không phải dạy, học sinh không phải học và đương nhiên, nó cũng không nằm trong giới hạn kiến thức thi tốt nghiệp THPT, thi tuyển sinh vào đại học, cao đẳng, thi chọn học sinh giỏi tỉnh, quốc gia.

Trong Chương trình giáo dục phổ thông mới môn Lịch sử được bộ GD&ĐT công bố chiều ngày 17/12/2018, nội dung giáo dục lịch sử này sẽ được đổi mới khá căn bản, toàn diện. Với một cấu trúc nội dung hợp lý, lịch sử các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (bao gồm cả kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, và các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và phía Bắc) sẽ được đề cập đến ít nhất là hai lần ở cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông với mức độ và cách tiếp cận khác nhau.

40 năm đủ để tái khẳng định những sự thật hiển nhiên

Thứ nhất, từ xác định bối cảnh quốc tế, nguyên nhân của cuộc chiến tranh đến rút ra bản chất của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở Biên giới Tây Nam.

Sau thất bại của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, các nước lớn ra sức gây ảnh hưởng đến khu vực Đông Nam Á. Hoàn cảnh lịch sử đó đã tạo nên bất ổn ở khu vực. Điển hình là thế lực phản động nước ngoài đã tiếp tay gây dựng nên tập đoàn phản động Pôn Pốt – Iêng Xary, đi ngược lại tiến trình phát triển của nhân loại. Những người đứng đầu nhà nước Campuchia dân chủ đã thiết lập một chế độ độc tài, phá vỡ mọi quan hệ sản xuất, thiết chế xã hội, ra sức khủng bố, tàn sát, thanh trừng có hệ thống, biến đất nước Chùa Tháp “thành một lò sát sinh khổng lồ. Một địa ngục trần gian chìm trong máu và nước mắt”.

chien-tranh-bien-gioi-tay-nam-qua-goc-nhin-cua-giao-vien-lich-su

Thầy giáo Trần Trung Hiếu - Giáo viên Lịch sử trường Phan Bội Châu, Nghệ An.

Về đối ngoại, chính quyền Campuchia Dân chủ không ngừng kích động tư tưởng thù hằn dân tộc với các quốc gia láng giềng, phủ nhận trắng trợn lịch sử và truyền thống đoàn kết, hữu nghị của nhân dân Việt Nam - người anh em đã kề vai sát cánh cùng họ trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Công khai đòi hoạch định lại biên giới Việt Nam – Campuchia với những yêu sách vô lý. Ngay từ tháng 5/1975, phía Campuchia dân chủ đã tiến hành đánh chiếm một số đảo và nhiều điểm nằm sâu trong nội địa Việt Nam. Với tinh thần hữu nghị, Việt Nam đã chủ động đề xuất các biện pháp nhằm giải quyết những xung đột, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, nhưng đã bị nhà nước Campuchia dân chủ khước từ, đơn phương cắt đứt quan hệ ngoại giao, vu cáo Việt Nam xâm lược, tiến hành các cuộc tiến công vũ trang với quy mô và cường độ ngày càng tăng, gây nên nhiều vụ thảm sát dã man với dân thường vô tội. Đây là một cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn vào toàn bộ lãnh thổ vùng biên giới Tây Nam của Việt Nam, với nhiều tham vọng của tập đoàn Pôn Pốt – Iêng Xary, được các thế lực phản động nước ngoài giúp sức. Trước chiều hướng leo thang chiến tranh của tập đoàn phản động Pôn Pốt – Iêng Xary, nhân dân và các lực lượng vũ trang Việt Nam buộc phải giáng trả thích đáng, đánh đuổi toàn bộ quân xâm lược ra khỏi lãnh thổ của mình, tạo điều kiện giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng.

Như vậy, cuộc chiến đấu chống lại quân Pôn Pốt xâm lược là hành động tự vệ hoàn toàn chính đáng và cần thiết của nhân dân Việt Nam. Đó là cuộc chiến tranh chống xâm lược do Campuchia dân chủ gây ra có sự tác động của Trung Quốc. Đồng thời, đáp ứng lời kêu gọi của những người cách mạng chân chính Campuchia, Việt Nam đã giúp đỡ nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt, cứu dân tộc Chùa Tháp khỏi diệt vong – đó là hành động phù hợp pháp lý, vì nghĩa tình quốc tế cao cả. Tuy vậy, không ít thế lực với cách nhìn thiển cận, phi lịch sử và thái độ hằn học đã xuyên tạc vấn đề này. Nhưng cả thế giới văn minh, cả loài người tiến bộ đã thừa nhận, đã ủng hộ nghĩa cử cao đẹp của Việt Nam, lên án chế độ diệt chủng tàn bạo ở Campuchia do Pôn Pốt cầm đầu. Diễn trình của phiên tòa xét xử tội ác của những người đứng đầu chế độ Campuchia dân chủ đã khẳng định rõ điều đó.

Hai là, tiến hành cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở Biên giới Tây Nam, nhân dân Việt Nam đã hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả. Với sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của quân tình nguyện Việt Nam, nhân dân Campuchia mà đại diện là lực lượng vũ trang Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia đã đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt - Iêng Xari, chế độ độc tài tàn bạo nhất trong lịch sử Campuchia cũng như lịch sử nhân loại; từng bước đưa đất nước Campuchia hồi sinh, phát triển và có những đóng góp xứng đáng vào việc gìn giữ hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.

Trách nhiệm của các giáo viên Sử

Khi Chương trình và sách giáo khoa mới chưa ban hành và hiện tại thì giáo viên, học sinh phổ thông vẫn đang dạy học theo chương trình sách giáo khoa hiện hành thì trách nhiệm của giáo viên Sử phổ thông đối với sự kiện cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam càng trở nên quan trọng và cần thiết.

Dù những kiến thức về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc đã từ lâu nằm trong kiến thức “giảm tải”, nhưng không có nghĩa là giáo viên không hề nhắc đến phần kiến thức này theo phân phối chương trình, đến thời điểm lịch sử kỷ niệm 40 năm.

Với kinh nghiệm và tâm huyết của 25 năm dạy Sử phổ thông, tôi xin khẳng định rằng : Các thầy cô cần phải trau dồi về kiến thức, kỹ năng giảng dạy, về tinh thần trách nhiệm và sự tâm huyết đối với mỗi tiết dạy của mình. Khi Bộ GD&ĐT đã chủ trương “giảm tải” kiến thức này mà giáo viên vẫn bỏ qua sự kiện này thì chính giáo viên Sử đã có tội với lịch sử, có lỗi với học trò và có tội với những người dân đã ngã xuống, những người lính đã hy sinh vì Tổ quốc trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam.

Theo tôi, khi giảng dạy về kiến thức cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, giáo viên Sử chỉ cần kiến giải mấy vấn đề cơ bản sau :

Thứ nhất, trình bày bối cảnh và nguyên nhân căn bản dẫn đến sự xâm lược của Pôn Pốt .

Thứ hai, bản chất của cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam đối với cả 2 phía : Pôn Pốt và quân đội nhân dân Việt Nam.

Thứ ba, vai trò của quân đội tình nguyện Việt Nam được thể hiện như thế nào và tác dụng của nó trong việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế dẫn đến thắng lợi của cách mạng Cam-Pu-Chia và sự sụp đổ của chế độ Pôn Pốt ngày 7.1.1979.

Và cuối cùng, giá trị lớn nhất của lịch sử là rút ra những bài học lịch sử từ cuộc chiến tranh này đối với công cuộc bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, chủ quyền biển đảo trong bối cảnh quan hệ quốc tế phức tạp, chằng chéo giữa các cường quốc đã và đang diễn ra trong khu vực và trên thế giới.

  • Theo nguoiduatin

Quốc lộ 1A bị cấm 30 phút chờ tháo ngòi nổ quả bom

  • 15/03/2019 10:30

Do quả bom gần quốc lộ 1A không thể di chuyển, lại hiếm gặp, chuyên gia Quảng Bình gọi điện sang Mỹ nhờ tư vấn và xử lý thành công.

quoc-lo-1a-bi-cam-30-phut-cho-thao-ngoi-no-qua-bom---vnexpress

 Quả bom 350 kg được người dân phát hiện khi đào móng nhà. Ảnh: Quang Hà

Sáng 14/3, Ban chỉ huy quân sự huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) phối hợp dự án dò tìm và xử lý bom mìn, vật liệu chưa nổ (MAG) xử lý thành công một quả bom tạ nguy hiểm từ thời chiến tranh.

Hai ngày trước, gia đình bà Võ Thị Mai (thị trấn Quán Hàu, gần quốc lộ 1A) đào móng nhà thì phát hiện quả bom lớn. Nhà chức trách xác định đây là bom 750-LB GP M117, dài 1,2 m, nặng gần 350 kg, đường kính 40 cm.

Hôm qua, khi đưa lên mặt đất, bom còn nguyên ngòi nổ, có thể kích nổ bằng lò xo nên không thể di chuyển. Ban quân sự huyện Quảng Ninh quyết định dừng tác động đến quả bom, dùng bao cát cố định, cho dân quân canh giữ qua đêm. 

quoc-lo-1a-bi-cam-30-phut-cho-thao-ngoi-no-qua-bom---vnexpress

 Ngòi nổ quả bom được tháo ra nhằm đảm bảo an toàn trước khi di chuyển quả bom. Ảnh: Quang Hà

Các chuyên gia MAG đã gọi điện qua Mỹ để tham vấn cách xử lý an toàn quả bom. Đến 8h sáng nay, khoảng 50 người, gồm công an, quân sự và chuyên gia MAG, chuẩn bị cho công tác tháo gỡ ngòi nổ.

Đến 10h15, một số hộ dân được di dời ra khỏi khu vực nguy hiểm, quốc lộ 1A cũng được chặn lại. Sau 30 phút, các chuyên gia tháo gỡ thành công ngòi nổ, di dời quả bom đến nơi an toàn để chờ xử lý.

Theo khảo sát của Trung tâm công nghệ xử lý bom mìn (Bộ Tư lệnh công binh), Quảng Bình có 159/159 xã, phường, thị trấn bị ô nhiễm bom mìn với diện tích hơn 200.000 hecta, chiếm 28,2% diện tích. Từ năm 1975, tai nạn bom mìn cướp đi hơn 2.930 sinh mạng, làm bị thương 3.820 người.

  • Theo vnexpress

Chiến tranh bằng tên lửa "mới, đẹp và thông minh”

  • 15/04/2018 13:24

Có lẽ chưa bao giờ con người ta quên đi những ký ức đau thương của một thời loạn lạc. Những năm tháng khói lửa mù mịt, cảnh đứa trẻ khóc bên thi thể người mẹ vì khát sữa.

Năm 2012 tôi bắt đầu có cái nhìn đa chiều về chiến tranh Việt Nam và Nhật Bản hay Campuchia. Người ta đưa cho tôi những tư liệu về chiến tranh, những cảnh người tháo chạy trong đêm tối, hốt hoảng ôm con bỏ chạy. Có nhiều thước phim ghi lại cảnh bầu trời đầy những chiếc máy bay rải thảm bom đạn trên chiến trường Điện Biên Phủ Việt Nam. Có lẽ ít ai biết được rằng khi kể lại những điều đó nhiều người đã không kìm được nước mắt. Có người nhớ lại hình ảnh cậu bé tầm 3-4 tuổi vui đùa bỗng chốc đã ra đi mãi mãi vì không kịp chạy cùng mẹ xuống hầm. Vị nhà giáo lịch sử đã bật khóc trước mặt bao học trò khi kể về chiến tranh Việt Nam những năm tháng nhọc nhằn. Chắc có lẽ, người thầy đó đã có những người thân phải ra đi mãi mãi chẳng thể quay về. Chiến tranh có mùi của sự đau thương và nước mắt. Tôi còn nhớ mãi hình ảnh một cựu chiến binh mắt buồn xa xăm khi đến khu di tích lịch sử nhìn những nấm mồ của đồng đội mình. Vị cựu chiến binh chỉ vào một nấm mồ và kể: "Đây là anh bạn cùng tổ tôi, anh bạn có một người mẹ già, có vợ cùng hai đứa con nhỏ. Anh bảo với tôi: Hai đứa con của anh kháu khỉnh lắm, nó hay nhắc về anh trong những bức thư còn nhàu nát vì bom đạn. Anh luôn khao khát được trở về tổ ấm khi đất nước hòa bình thế mà chỉ trong một đêm địch rải bom đã cướp đi sinh mạng của anh". Vị cựu chiến binh bật khóc vì đau thương, vì hụt hẫng. Cứ nghĩ rồi sẽ có ngày ông và người đồng đội được trở về bên tổ khi cả hai còn nhiều hứa hẹn. Tôi đã từng viết về chiến tranh Việt Nam trong ngày tưởng niệm các vị anh hùng liệt sỹ. Anh bạn cùng nghề nói với tôi rằng, không nên “đào” lại những vết tích đã qua, bây giờ là thời hòa bình cần phải gạt bỏ đau thương, sự thù hận để bắt tay vào việc hợp tác song phương trên diễn đàn thế giới. Chiến tranh đã đi qua, vết thương sẽ còn mãi nhưng xin cậu hãy ngừng nhắc về điều đó. Nhưng lịch sử thì sao có thể quên được, thế hệ ngày nay phải nhắc cho các em thấy rằng, ngày đó Việt Nam đã từng là nước đau khổ như thế nào, nhân dân Việt Nam đã kiên cường ra sao, để từ đó mà gìn giữ những giá trị dân tộc ấy. Chắc hẳn, nhiều người bây giờ vẫn sẽ chẳng thể quên, nạn đói năm 1945 (năm Ất Dậu) thây chết đầy đường, cái đói đã cướp đi biết bao nhiêu sinh mạng người dân Việt Nam. Và sẽ còn nhớ mãi tác phẩm “Một bữa no” của nhà văn Nam Cao, tác phẩm kể về nạn đói của người dân Việt Nam. Đến năm 1972, người dân Hà Nội đã bàng hoàng trước sự giội bom của không quân Hoa Kỳ, những chiếc máy bay B52, F11 liên tiếp “rú” trên bầu trời Hà Nội, Nickson ra lệnh, quyết tâm san phẳng Hà Nội trong đêm để giành phần thắng trên chiến trường ngoại giao. Và khi kể về chiến tranh, không riêng gì Việt Nam, người Nhật Bản vẫn còn sốc khi nhớ về ngày mùng 6 và 9/8/1945, Mỹ đã cho ném hai quả bom nguyên tử xuống 2 thành phố Hiroshima và Nagasaki khiến 200 ngàn người chết, hủy diệt toàn bộ 2 thành phố. Nước mắt họ vẫn còn chảy, nỗi đau vẫn còn hằn mãi trong trái tim họ. Để rồi ngày nay, khi tưởng niệm  các nạn nhân trong vụ chiến tranh năm ấy hàng nghìn người dân Nhật Bản vẫn còn đau và thương xót vô cùng.


Chiến sự ở Syria.

Ngày nay, thế giới lại thêm một lần bàng hoàng trước sự kiện chiến tranh bùng nổ tại Syria. Mỹ, Anh, Pháp đồng loạt tổng không kích Syria trong đêm ngày 13, rạng sáng ngày 14/4. Mà theo ông Trump, “Mỹ tấn công Syria bằng tên lửa mới, đẹp và thông minh”. Và rồi, người ta sẽ gọi cuộc chiến này bằng cái tên nào đó để sau này cả nhân loại sẽ còn nhớ mãi Syria một thời bom đạn. Rồi những cuộc tranh luận về chính trị trên thế giới vẫn luôn là đề tài được lặp lại. Tổng thống Trump và người đồng cấp Putin sẽ là đề tài nóng nhất khi chiến trường đã bắt đầu bùng nổ? Và liệu rằng, những người chịu thiệt thòi nhất có phải là những nhà cầm quyền hay chính những người dân vô tội? Những đứa bé Syria mặt lấm lem vì bỏ chạy, kêu gào vì mất cha, mất mẹ. Những người đàn bà, người đàn ông ở Syria có còn vô tư mà lao động, hay là sự lo âu bom đạn “đổ” vào người. Tôi còn nhớ, có một vị nữ phóng viên Việt Nam thực hiện phóng sự về chiến trường Syria trước đó, cô kể và quay chi tiết về chiến trường, sự tan hoang, cảnh người ly tán trong đêm. Nhưng thật không may cho cô, khi cô bị tố là dàn dựng lại kịch bản của một nữ phóng viên người Nga, cô bị cho là giả mạo, và rồi khi trả lời trên truyền hình, cô cho rằng điều mà cả ê-kip cô làm là thật, nhưng ai tin được khi bản thân cô ra chiến trường lại ăn mặc “bình dị” đến lạ thường. Và suy cho cùng, chiến tranh là điều mà nhân loại đều không muốn xảy ra, vì đó là niềm đau thương, là một điều kinh hoàng cho tất cả mọi người. Có hay chăng việc ngăn cản điều đó cũng chỉ là những cuộc biểu tình ngừng chiến tranh của toàn thế giới, và dĩ nhiên ngày 15/3/2003, 15 triệu người xuống phố biểu tình cũng không ngăn cản được chính quyền Tổng thống George W.Bush và đồng minh. Nhưng cũng chỉ có cách đó, những người bình thường như chúng ta có thể làm mà thôi. Bởi, suy cho cùng, thế giới vốn dĩ không bao giờ phẳng. Và chiến tranh không phải là biên bản mà là nỗi đau của từng con người bằng xương, bằng thịt.