Mùa chuối chín ven sông

  • 21/08/2018 16:01


Cuốn sách vừa xuất bản của Trúc Thiên

Đam mê viết lách từ ngày còn ngồi trên ghế nhà trường, nhưng Trúc Thiên chỉ thật sự gây chú ý khi trở lại trong thời gian gần đây. Nhiều truyện ngắn của anh xuất hiện trên các báo lớn, uy tín khiến bạn đọc tò mò về gương mặt này. Chỉ sau 1 năm trở lại với trang viết, Trúc Thiên đã đánh dấu bước ngoặt trong sáng tác của mình bằng tập truyện ngắn dành cho mẹ nhân mùa Vu Lan "Cả một trời thương". Trang sáng tác hôm nay xin được giới thiệu cùng độc giả một truyện ngắn của Trúc Thiên được nhà văn Đoàn Thạch Biền đánh giá là một truyện ngắn hay, xúc động.   1. Anh Ba gọi điện mắng vốn chuyện Má bị lẫn, cứ nói toàn chuyện không đâu. Tỷ như, Má lần mò ra ven sông ngó mấy bụi chuối non xanh ngắt, rồi kêu chặt mấy nải về nấu chè cho thằng Bốn ăn. Nó thích chè chuối chưng lắm nghen. Mà nhớ phải có bột khoai bột bán. Má nấu món đó nó ăn ghiền luôn. Lát đi học về, nó đói có cái lót dạ bây ơi. Chị dâu lót tót chạy ra bến, kéo Má vào. Thiệt là, thằng Bốn nó đâu ở đây mà ăn, nó tuốt trên Sài Gòn, học gì nữa mà học, nó giờ đi mần rồi Má ơi. Có bận nửa đêm, Má lần mở đèn sáng trưng, gọi anh chị Ba dậy, lấy ghe chở Má ra chợ ngoài đón Tía bây coi. Anh chị Ba hoảng hồn, Tía mất lâu rồi mà Má ơi, gà đâu đã gáy, mới có hai giờ sáng, Má vào buồng ngủ đi. Rồi bữa Má gọi chị dâu thành Bế Hai, dặn dò cẩn thận sau này lấy chồng phải sống yên bề trước sau, miệt dưới Rãi Quạt, sông sâu bờ cạn, có gì thì bám mấy gốc bần mà bớ làng bớ xóm. Chị dâu lắc đầu nhăn mặt, Má ơi lá Má, con là con dâu mà, chị Bế Hai lấy chồng miệt Bảy Núi làm gì có sông nước mà Má lo. Mỗi lần được nhắc, Má lại quay ra nhìn, ánh mắt thờ thẫn, thở dài, ủa…ờ... Anh Ba chốt hạ, Má lẫn nặng rồi, giờ chuyện nhớ chuyện không, có khi cả ngày không nhớ ra được gì hết, tình hình càng ngày càng đáng lo. Tháng mười hai, ven bờ sông, chuối trổ vàng hươm, thơm lừng. Chiều chiều Má lại ra bến ngồi, ngó mấy bụi chuối mãi miết, chẳng nói chẳng rằng, đến sẫm trời, mới lững thững đi vào. Mấy bận đầu chị dâu còn sợ, kêu vào, riết rồi thấy thôi, Má muốn ngắm muốn nhìn chi thì để Má làm. Chỉ chốc chốc, rón rén, ra bến ngó Má, sợ có chuyện không hay. Người già kể cũng lạ, cứ ủ ê mãi miết mấy chuyện xưa cũ. Chỉ một mùa chuối chín, mà Má lại hoài niệm cả thanh xuân. Bữa Má tỉnh, nhớ chuyện, Má kể. Hồi làng mình chưa được như bây giờ, mỗi mùa chuối chín cứ như hội mùa, nhà nhà đổ ra ven sông mà chặt, từng buồng chuối căng tròn úc núc, được chuyền tay sắp xếp cẩn thận. Nải nào ngon thì kêu lái về thu, nải nào không đẹp thì để dành lại. Chuối không được trái, bị móp bị dẹp, thì đem hong khô vài nắng, rồi sên với đường, áo thêm một lớp mật ong bên ngoài thành chuối xấy. Chuối nhỏ trái thì cắt lát mỏng, cán bột đem phơi trên mành tre, rồi nướng thành từng miếng bánh tròn tròn, giòn tan… Mà đặc biệt là chuối chín rục, không ăn sống được, bỏ thì tiếc quá, thế là ông bà mình dạy vắt cốt dừa, nấu kiểu như chưng lên với ít bột khoai bột bán, cái ngọt ngào quyện cái béo ngậy thêm đám bột dai dai xực xực, hương vị ấy thấm sâu vào lòng cả một thế hệ của miền quê này. Má món mém cười, rành rọt cho chị dâu nghe những cách làm chuối, thể như tự hào quãng đời thanh xuân đủ đầy niềm vui, kỉ niệm mỗi mùa chuối chín ven sông. Hồi má lấy tía mày cũng là nhờ nồi chè chuối nghen bây. Tía bây ngày xưa láng lẫy nhất miệt này. Bận ổng đi giỗ dưới ngoại, ăn chén chè chuối rồi khen người nấu khéo tay. Rập rình dòm ngó má miết, mà hồi đó ngoại khó lắm, đầu ngõ thập thò thằng đờn ông nào là ngoại mắng té tát. Mà tía bây gan cùng trời nghen. Ổng rao khắp đầu trên xóm dưới đặt trầu cau má rồi, đám trai làng nghe vậy đâu dám hó hé. Ổng lẽo đẽo theo má từ những buổi chợ sớm cho đến bận má ra bến ngồi rửa chén mỗi chiều. Hội đình làng năm đó, ổng làm lì, cặp sát nách má riết. Dân trong làng đồn rân trời. Ngoại bây xanh mặt, kêu ổng tới hỏi. Vậy chứ ông tú tài nào giờ chữ nghĩa thôi, làm gì mà biết đến ruộng vườn huê màu, sao biết cái cực cái khổ của dân bần nông, làm sao biết chuối non mấy bẹ, chuối mẹ mấy tàu. Môn đăng chẳng đặng khó bề yên gia. Ai ngờ cái ông thư sinh tú tài trả lời ngọt xớt. Chuối non chín bẹ, chuối mẹ mười tàu. Tía thương con gái tía, con thương vợ con. Yên gia hay không là nó nằm ở cái lòng cái dạ của hai đứa mà thôi tía à. Con biết gọi tía vậy là hỗn đó, nhưng mà trong lòng muốn có vợ thì phải có tía má trước. Ngoại bây nghe ổng nói vậy, ngẫm nghĩ đôi chút rồi xua tay biểu ổng về đưa người lớn qua dạm ngõ cưới xin. Hồi cưới là ngay mùa chuối chín ven sông. Hương chuối quyện bát ngát với gió đồng. Vui lắm nghen bây! Má kể mà mắt ánh lên niềm vui, tưởng chừng như trước mặt má là cái lễ cưới rộn ràng của năm ấy. Má móm mém cười. Đâu có đứa con nào thấy được khuất sau cái nụ cười ấy, là một giọt nước mắt lăn dài. Lòng má nặng trĩu trịt. Má khi nhớ khi lẫn. Không còn bao lâu nữa đâu, rồi má cũng quên chuyện hồi xưa cho coi. Mà cũng có khi má quên luôn tụi bây, biết lúc đó tụi bây có nhớ má hông? Trách ai trồng chuối dưới bàu, trái ăn, lá rọc bỏ tàu xác xơ… Câu hát của má nghe đằng đẵng những xa xót. Bế Hai tất tả về khi hay Má té. Người già té là gãy xương, canxi còn đâu mà liền lặn như tụi trẻ. Để chi Má ra bến cho mưa trơn trợt mà té. Thiệt là khổ mà. Giờ Má nằm một chỗ, cái tay băng trắng xóa. Má đó, từ nay đúng giờ ăn, đúng giờ ngủ, hơn tám mươi còn gì, đừng đi lung tung, lẫn rồi, lỡ đi lạc hay té sông là hết phương kiếm tìm. Bế Hai ngồi cạnh giường Má, giọng vẫn lanh lảnh, kiểu không ưng ý Má tí nào. Má làm vậy, chỉ tổ mang khổ thêm cho đám con, bỏ buôn bỏ bán chạy về, lại dấm dúi tiền bạc chồng con đặng đem về thuốc thang cho Má. Thương Má mới nhắc vậy, mà Má có thương tụi con thì nhớ phải nghe lời con nha. Má lần cái tay còn lại, nằm lấy tay Bế Hai. Bế Hai đừng có lo, Má còn nhớ mà, Má biết bơi giỏi lắm, Bế Hai tập bơi được chưa, cắt gốc chuối làm bè mà đạp nước, rồi quạt nước. Bế Hai nhát hít à, Má già rồi lỡ Bế Hai té sông như hồi xưa, Má hông có đủ sức mà cứu Bế Hai nghen. Bế hai nắm tay Má. Tay Má gầy guộc, gân xanh nổi hằn lên, chỉ còn lớp da bọc xương, nhăn nheo thô ráp. Bế Hai khóc ngon lành, khóc anh ách như cái lần đuối nước khi xưa. Hình ảnh má lao vào giữa dòng, dìu Bế Hai lên bờ, theo từng giọt nước mắt, mồn một hiện rõ. Má nè, má ráng khỏe lại đặng ăn tết nửa nghen, chớ tết nhứt tới nơi, má nằm một chỗ sao lì xì con cháu được. Con già cái đầu vậy chứ cũng còn ham lì xì nghen má. Bế Hai nói giọng nghèn nghẹn. Má lần tay vô cái túi tiền nhét kĩ bên trong hông quần. Mở cái kim tây má thường dùng để giữ cho cái túi tiền không rớt. Má có nè, má cất kĩ lắm Bế Hai, đứa nào cũng có phần. Đêm đó, Bế Hai trãi cái chiếu xuống đất, nằm cạnh giường má ngủ. Sáng sớm lần lựa mấy chập mới chịu về lại Bảy Núi. Anh Ba ngồi thẫn thờ cả buổi tối ngoài bến. Ven sông, từng cái tàu lá chuối lao xao theo bấc lùa. Cuối tháng chạp, trời bắt đầu trở lạnh. Sắp xếp mớ bộn bề lo toan nơi phố thị, xuôi chuyến xe đò rưng rức, thằng Bốn về theo mùa gió Tết. Đường làng yên ả chẳng xô bồ hối hả như cái nơi mà nó đang cố bám víu cuộc mưu sinh. Từ những năm tháng sinh viên còn bỡ ngỡ, những trúc trắc ngã gục khiến nó bao lần mím môi dặn lòng đừng khóc. Đến tận bây giờ thì đã chai sần cảm xúc. Cuộc sống nơi ấy đã dạy cho nó biết thích nghi, biết lúc nào nên đương đầu sóng gió, và biết lúc nào nên khẽ khàng chấp nhận hai chữ số phận. Chẳng gì là dễ để có, đoạn đường đời trầy xước nó bước qua, đôi khi rỉ rả những nghiệt ngã mà nó luôn phải tự đấu tranh với chính bản thân mình, thậm chí với chính những gương mặt thân quen hàng ngày mà nó gặp gỡ. Để làm gì? Đôi khi nó luôn tự hỏi mình câu ấy khi đêm về đối diện với những bức tường vô tri. Vậy rồi sáng mai, vẫn phải thức dậy với bình minh rực rỡ ngoài kia. Lại đôn đáo cho kịp giờ làm. Lại bon chen với những hy vọng đủ đầy cho cuộc sống mai sau. Lại tay bắt mặt mừng thể như thân thương với những con người ấy. Nhưng ngoảnh đi, đôi khi kì thực xa lạ đến nỗi bất giác gặp nhau giữa phố xá không nhớ nổi cái tên. Những câu hỏi cứ mãi miết theo nó rong ruổi khắp cái đô hội phồn hoa này. Những câu hỏi chẳng thể nào trả lời. Mà có lẽ không chỉ riêng nó. Ngoài kia bụi đường hằn in lên biết bao gương mặt chai sạn bôn ba, họ cũng đã nhiều lần tự hỏi như nó. Và cũng chẳng bao giờ có câu trả lời cho chính mình, như nó vậy. Giữa những chuyến miên di tha phương ấy. Trong lòng, chỉ mong một mùa xuân ấm nồng để về.  Để nghe yêu thương còn gõ lên đời mình những rung cảm tha thiết nhất. Thằng Bốn đặt cái ba lô lên bộ ghế gỗ cũ mòn từ thời Tía sắm, ngót nghét cũng bằng cả tuổi đời nó. Lần ra bến, bóng chiếc áo nâu sờn cũ quen thuộc vẫn ngồi đó. Một chiều tàn mùa chuối chín. Hai bên ven sông, chỉ còn thưa thớt vài buồng chuối không được trái, chín rục lúc lắc. Những quài chuối đẹp trái, người ta đã chặt chạy tết hết rồi. Chuối giờ không có được giá phải hông Bốn. Má nghe chòm xóm nói lái mua rẻ thúi rẻ ình. Năm sau họ đốn hết chuối. Nhìn chắc trơ trọi lắm. Thằng Bốn còn thèm chè chuối Má nấu hông. Má giờ chỉ còn có một tay động đậy được, lại lúc tỉnh lúc lẫn. Lúc Má lẫn thằng Bốn có thèm thì Má cũng hông nhớ mà nấu cho bây ăn đâu. Hay lần này, để con nấu má ăn nghen! Thằng Bốn cõng Má đi dọc ven sông, mót nải chuối chín rục mà người ta bỏ đi không thèm chặt. Dù là lần cuối Má nấu chè cho nó, hay lần đầu nó nấu cho Má ăn. Nhưng nó tin, má có lẫn đi chăng nữa, thì Má sẽ không bao giờ quên cách nấu chè chuối chưng. Bởi cả cuộc đời này của Má, đã gắn liền với biết bao mùa chuối chín ven sông. Hoặc giả là lần đầu nó nấu cho Má ăn, thì cũng vẫn là cái hương vị cũ kĩ ngày ấy Má đã nấu. Vì tận sâu dòng máu của mình, làm sao thằng Bốn quên được cái hương vị ngọt ngào đầy yêu thương này. Chiều quê sẫm trời, bát ngát mùi khói đốt đồng quyện vào hương chuối cuối mùa thoảng theo gió. Mãi sau này, thằng Bốn không thể nào quên buổi chiều ấy, bấc của những ngày giáp tết thổi lành lạnh, Má vòng tay ôm cổ nó, nó cõng Má đi dọc ven sông, cuối mùa chuối chín.